Hệ thống phân phối


Liên hệ 

BONSILAGE cải thiện chất lượng protein của thức ăn ủ chua và cung cấp chất đạm có thể hấp thu nhiều hơn trong ruột non


Phòng nông nhiệp bang Niedersachsen và đại học Hohenheim đã nghiên cứu thức ăn ủ chua được xử lý với BONSILAGE PLUS về chất dinh dưỡng thô, chất lượng ủ chua và chất lượng protein theo phương pháp phân đoạn protein. Kết quả là rõ ràng: với BONSILAGE nhiều protein thô có thể sử dụng trong ruột non hơn.

 

Mô tả thí nghiệm

 

Trạm thí nghiệm ở Feld đã ủ chua cỏ cắt lần đầu tiên ở cánh đồng cỏ lâu năm với ba cấp độ lượng vật chất khô (20-30%; 30-40%; 40-50%) và thay đổi hai lần bón phân (25 m3 phân chuồng + 100 kg KAS; 25 m3 phân chuồng + 250 kg KAS) tương ứng không xử lý và có xử lý với BONSILAGE PLUS. Phòng nông nghiệp đã nghiên cứu chất dinh dưỡng thô cũng như chất lượng lên men. Ngoài ra cũng tiến hành phân đoạn protein theo phương pháp phân tích mới của trường đại học Hohenheim.

 

Kết quả chất lượng lên men

 

Qua tất cả mức độ lượng vật chất khô ( TM) và thay đổi bón phân đã cho thấy hiệu quả rõ ràng của BONSILAGE PLUS – được đánh giá qua bảng điểm của Hiệp hội nông nghiêp Đức DLG cho số lượng lên men đạt 99,5 điểm trong thang điểm 100, so với 71,3 điểm của trường hợp không được xử lý.

 

Kết quả về chất lượng Protein

 

Đối với phân đoạn protein cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa những trường hợp không được xử lý và được xử lý với BONSILAGE PLUS. Như một ví dụ: sự phân chia phân đoạn protein cho trường hợp TM ở 30-40%
(xem miêu tả 4).
Như được dự đoán bởi tỷ lệ NH3-N thấp hơn đáng kể ( 6,2% so với 9,6%), tỷ lệ phân đoạn A (hợp chất Ni tơ phi protein, giảm nhanh chóng amoniac trong dạ cỏ) giảm nhiều từ 44% xuống 28% ( p<0,001) khi sử dụng BONSILAGE PLUS.
Hơn nữa tỷ lệ protein sẵn có trong dạ cỏ theo tốc độ trung bình trong phân đoạn B2 (trong dạ cỏ protein đơn thuần có khả năng phân hủy hoàn toàn) tăng từ 42% đến 57% ( p<0,001). Và phân đoạn B3 ổn định một phần dạ cỏ (trong dạ cỏ protein tinh khiết liên kết thành protein phân hủy chậm và không hoàn toàn) đã gần như tăng gấp đôi với BONSILAGE PLUS (p <0,05).

 

Ý nghĩa những kết quả cho những thay đổi vật chất khô và bón phân

 

Nhìn chung, hiệu quả được miêu tả trong phân đoạn A và B2 cho mỗi phạm vi TM và mỗi thay đổi bón phân nên được chú ý- và có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng minh rõ ràng rằng các protein thực vật khi sử dụng BONSILAGE PLUS sẽ ít bị phân hủy và được phục hồi lại.

 

Giảm quá trình phân hủy và phục hồi protein thực vật bởi các chủng vi khuẩn acid lactic đặc biệt

 

Giảm phân hủy và phục hồi protein thực vật cho thấy rằng việc sử dụng kết hợp vi khuẩn acid lactic đặc biệt trong những sản phẩm BONSILAGE, ở đây là sản phẩm BONSILAGE PLUS làm giảm độ pH trong những ngày đầu ủ chua nhanh hơn và trong quá trình ủ chua tiếp theo sâu hơn so với trường hợp không được xử lý. Điều này khiến cho các vi sinh vật phụ thuộc vào độ PH tốn ít thời gian hơn để phân hủy Enzym thực vật,, hạn chế hỏng lên men và phân hủy Protein thực vật

 

Ý nghĩa đối với bò sữa

 

Đối với bò sữa việc thay đổi trong những phân đoạn rút ra kết quả trong bảng cân đối cân bằng Ni tơ trong dạ cỏ RNB thấp hơn, giảm quá tải cho gan bởi lượng U rê ít hơn chuyển đổi thành Ni tơ và lượng protein sẵn có trong dạ cỏ ổn định theo thời gian. Cuối cùng là một cái nhìn về nguồn cung cấp bổ sung quan trọng đồng bộ về protein và năng lượng

Phương pháp phân tích mới cho phép xác định các phần phân đoạn protein thô


Đại học Hohenheim đã phát triển một phương pháp hoàn toàn mới, bằng cách sử dụng phân đoạn hóa học có thể phát hiện quá trình biến đổi protein thực vật trong quá trình ủ chua.

 

Cho đến nay trong phân tích thức ăn ủ chua thông thường chỉ có protein thô ( XP) được đo, việc ghi lại ví dụ xác định lưu lượng protein không phân hủy trong ruột (UDP) là không thể. Với phương pháp phân tích toàn diện mới hàm lượng UDP trong thức ăn ủ chua có thể được tính toán. Ngoài ra, tỷ lệ thay đổi protein thực vật có thể được ghi lại trong quá trình chuyển đổi từ cỏ tươi sang nguyên liệu ủ chua.

 

Phương pháp

 

Protein thực vật được xếp vào những phân đoạn xác định bằng quy trình nấu với phương pháp hóa học ướt khác nhau. Việc phân loại phân đoạn protein được thực hiện phụ thuộc vào tốc độ và phạm vi thải ra trong dạ cỏ trong hệ thống gọi là CNCPS (xem miêu tả 2).

 

Quá trình phân giải protein phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau

 

Hoạt động phân giải protein trong quá trình ủ chua đến một mức nào đó là không thể tránh khỏi và cho thấy hoạt động của enzyme thực vật. Hơn nữa, clostridia và enterobacteria làm suy giảm protein, điều này có thể ngăn chặn lần lượt bởi các vi khuẩn axit lactic cạnh tranh mạnh mẽ. Như vậy có thể giải thích rằng một phần hoạt động phân giải protein xảy ra phụ thuộc vào độ pH. Phạm vi của nó được giảm đáng kể thông qua giảm pH nhanh và bền vững từ khi bắt đầu ủ chua.

 

Phân đoạn protein khác nhau trong cỏ tươi, ủ chua chất lượng cao và chất lượng thấp

 

Ở phần miêu tả 3, phân đoạn protein được thực hiện theo hệ thống CNCPS cho cỏ tươi và cỏ ủ chua lên men tốt và cỏ ủ chua lên men chưa tốt. Sự khác biệt là rõ ràng. trong quá trình lên men chưa tốt tỷ lệ phân đoạn A rõ ràng cao hơn và phân đoạn B2 thực tế thấp hơn so với cỏ tươi và so với trường hợp được ủ chua tốt.

 

Phân hủy protein thấp hơn bởi việc sử dụng thích hợp vi khuẩn axit lactic được chứng minh

 

Được chứng minh rằng khi sử dụng vi khuẩn axit lactic đặc biệt thì quá trình lên men ủ cỏ tươi được cải thiện. Điều này cùng với mức độ phân hủy protein trong khi ủ chua, cho đến nay có thể được bắt nguồn chỉ ở tỷ lệ NH3-N trong N tổng. Điều này cho thấy thấp hơn rõ ràng trong việc sử dụng các vi khuẩn axit lactic đặc biệt so với trường hợp không được xử lý.

Ý nghĩa phân đoạn protein riêng lẻ trong dinh dưỡng cho bò


Protein trong thức ăn thường trong những hợp chất khác nhau và được sử dụng phù hợp bởi động vật nhai lại. Các thành phần protein riêng lẻ trong thức ăn xác định giá trị và ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất của vật nuôi.


Hệ thống đánh giá protein đối với động vật nhai lại

 

Hệ thống đánh giá protein của Đức đối với động vật nhai lại dựa trên nguyên tắc protein thô có thể sử dụng trong ruột non (nXP), hình thành từ protein vi khuẩn ( MP) bởi các vi khuẩn trong dạ cỏ và lưu lượng protein không phân giải trong ruột (UDP). Hơn nữa lượng UDP phải tăng lên trong khẩu phần của một con bò cao sản so với một con bò cho năng suất sữa trung bình để đáp ứng nhu cầu nXP (xem miêu tả 1).

 

Phân hủy protein và phục hồi trong quá trình ủ chua

 

Trong quá trình ủ chua thì quá trình phân hủy và phục hồi protein thực vật (phân hủy protein) được diễn ra trong phạm vi lớn. Khi đó lượng UDP giảm và xuất hiện hợp chất Ni tơ phi protein (NPN), trong đó bao gồm NH3-N, amino axit tự do (AA), peptide và các amin sinh học. Nếu số lượng sẵn có thì điều này dẫn đến việc dư thừa ni tơ trong dạ cỏ và phải được khử độc phần nào qua ure ở gan. Điều này bất lợi cho sức khỏe của vật nuôi.

 

Ý nghĩa đối với bò sữa

 

Việc sử dụng BONSILAGE PLUS dẫn đến quá trình phân hủy và phục hồi protein thực vật và ảnh hưởng đến tỷ lệ phân đoạn protein riêng lẻ trong ủ chua. Việc thay đổi này có thể được chứng minh trong phân đoạn protein kết quả đối với bò sữa trong cân bằng RNB, giảm quá tải cho gan bởi lượng U rê ít hơn chuyển đổi thành Ni tơ và lượng protein sẵn có trong dạ cỏ ổn định theo thời gian. Cuối cùng là một cái nhìn về nguồn cung cấp bổ sung quan trọng đồng bộ về protein và năng lượng.


Nhiều UDP tiết kiệm thức ăn tinh đắt tiền chứa Protein

 

Như kết quả từ những sự khác biệt trong phân đoạn protein đối với tất cả trường hợp thí nghiệm thì tỷ lệ UDP cao hơn ở protein thô từ khoảng 2 đến 6%, nếu giả định tỷ lệ dạ cỏ trung bình khi hấp thụ thức ăn trung bình.

 

Dựa trên khẩu phần ăn tham khảo thì có thể tiết kiệm được một lượng 0,28 kg bã đậu nành / bã cải dầu mỗi con bò mỗi ngày và khoảng 5 cent / bò / ngày bởi hàm lượng UDP cao hơn 4% trong cỏ ủ tươi (xem miêu tả 5). Không xem xét đến tính toán trong miêu tả 5 thì những thiệt hại TM thấp hơn có thể đạt được bằng cách sử dụng những sản phẩm BONSILGE (dưới tấm đậy nilon và chất ủ có bề mặt cắt thẳng) cũng như tỷ lệ tiêu hóa cao hơn, trong đó hàm lượng năng lượng cao hơn cung cấp trung bình 0,2-0,3 MJ NEL/kg TM.

 

Tổng kết

 

Sử dụng sản phẩm BONSILAGE sẽ cải thiện chất lượng cỏ ủ tươi một cách bền vững. Điều này được xác nhận bởi kết quả phân tích của trường đại học Hohenheim với nguyên liệu thử nghiệm rộng rãi của Phòng nông nghiệp LWK Niedersachsen.
Hàm lượng UDP cao hơn đồng thời bảo vệ được sức khỏe vật nuôi phản ánh rõ tính kinh tế, vì vậy tiết kiệm thức ăn có protein đắt tiền là có thể.